Tương Lai Của Ăn Uống Bền Vững Tại Trung Quốc, Nhật Bản Và Việt Nam
This post has been translated from English to Vietnamese. You can find the original post here.
Chuyển sang chế độ ăn uống bền vững hơn là một trong những cách thức hiệu quả nhất để giảm thiểu phát thải khí nhà kính toàn cầu và giảm bớt áp lực lên tài nguyên đất và nước. Các chuyên gia đều nhất trí rằng việc tiêu thụ ít protein động vật tiêu tốn tài nguyên, ví như thịt bò, có thể giúp ích cho cả hành tinh và sức khoẻ của chúng ta.
Trong khi các quốc gia ở Nam và Đông Á đều có truyền thống sống dựa vào chế độ ăn thực vật thì nhu cầu về protein động vật đang tăng vọt. Đến năm 2030, việc tiêu thụ thịt sẽ tăng dự kiến là 75% ở Việt Nam và 20% ở Trung Quốc so với mức của năm 2010.
Hầu hết các nghiên cứu về việc tiêu thụ ít thịt đều tập trung vào các nước ở phương Tây, nơi mà các chiến lược như dán nhãn thực phẩm và chiến dịch giáo dục hoạt động tốt. Nhưng có rất ít thông tin về việc liệu các cách tiếp cận tương tự như vậy có hoạt động được ở thị trường châu Á hay không. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mức độ sẵn sàng của người tiêu dùng ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam như thế nào trong việc chấp nhận thói quen ăn uống bền vững hơn.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát hơn 5000 người từ khắp ba quốc gia để tìm hiểu về thói quen ăn uống của họ và nhận thức về các vấn đề môi trường cũng như mối quan tâm về sức khoẻ liên quan đến sản xuất thịt. Họ cũng hỏi mọi người sẽ chi trả bao nhiêu cho thực phẩm được chứng nhận là thân thiện với môi trường.
Để tìm hiểu sâu hơn, những người tham gia được tặng “những giỏ thực phẩm” chứa đầy các sản phẩm khác nhau mang tính bền vững và giá cả cũng khác nhau. Những thực phẩm này được coi là thói quen và văn hoá đồ ăn, bao gồm thịt, rau củ, trái cây, và các mặt hàng chủ lực về tinh bột như gạo hoặc bánh mì. Những người tham gia cũng có thể lựa chọn phương án không có thịt. Các nhà nghiên cứu kiểm tra xem liệu việc cung cấp các chương trình “này” có ảnh hưởng đến lựa chọn của họ không. Những người tham gia sẽ được ngẫu nhiên chia thành các nhóm và tiếp xúc với một trong ba thành tố hoặc không thành tố nào cả (nhóm điều khiển):
- Phần tác động khí hậugiải thích việc nhu cầu thịt ngày càng tăng cao góp phần làm tăng lượng khí thải nhà kính
- Phần sử dụng tài nguyên nêu bật số lượng môi trường canh tác chuyên sâu
- Phần hiệu ứng sức khoẻ nhấn mạnh rủi ro đến từ phân bón và thuốc trừ sâu sử dụng trong nông nghiệp chuyên sâu
Mỗi phần kết thúc với một tuyên bố về khả năng của những lựa chọn cá nhân đến từ phía người tham gia tạo nên sự khác biệt.
Khảo sát trực tiếp ở Trung Quốc và Việt Nam, trực tuyến ở Nhật Bản. Những người tham gia được tuyển dụng từ cả khu thành thị và nông thôn của mỗi đất nước, và việc lấy mẫu được thiết kế để đại diện cho nhân khẩu học dân số về độ tuổi, giới tính, và thu nhập hộ gia đình nhằm điều tra các hiệu ứng cấp quốc gia.
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng, tổng thể, thịt gà và cá là những lựa chọn protein phổ biến nhất, với số lượng người đồng ý trả thêm 2% cho chúng so với thịt lợn. Thịt bò hơi ít phổ biến hơn, và thịt cừu thì ít được ưa chuộng nhất. Khi nói đến chất đường bột thì gạo là sản phẩm được yêu thích nhất. Người tiêu dùng đều đồng ý trả thêm 7% để sử dụng gạo hơn là bánh mì và khoai tây. Đối với các lựa chọn không sử dụng thịt thì không nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ cho lắm. Kết hợp lại với nhau, điều này cho thấy rằng các sản phẩm chủ lực truyền thống như gạo và thịt lợn vẫn là gốc rễ trong chế độ ăn uống. Những ưa chuộng văn hoá này quan trọng hơn thu nhập khi nói đến lựa chọn thực phẩm, đặc biệt là đối với những người tham gia lớn tuổi.
Thực phẩm được dán nhãn được coi là bền vững đã được đón nhận trên cả ba quốc gia, với những người tham gia sẵn sàng trả thêm khoảng 16% cho một giỏ thực phẩm với các mặt hàng được chứng nhận là sản xuất bền vững. Người tiêu dùng Việt Nam nổi bật với việc sẵn sàng trả thêm 39% cho các lựa chọn thân thiện với môi trường. Người tiêu dùng Trung Quốc cũng theo sát (31%), trong khi người tiêu dùng Nhật Bản thì do dự hơn một chút (10%).
Những người tham gia trẻ hơn và có điều kiện tài chính hơn là những người quan tâm nhất đến các lựa chọn bền vững và sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho dạng thực phẩm này. Mặt khác, những người tiêu dùng lớn tuổi và ở nông thôn thì phản ứng tốt hơn với các thông điệp tập trung vào sức khoẻ.
Trong khi 84% số người tiêu dùng nói rằng họ tin tưởng vào các nhãn hiệu được chứng nhận là thân thiện với môi trường, điều này dựa trên các cơ quan chịu trách nhiệm chứng nhận. Nhìn chung thì các tổ chức quốc tế nhận được nhiều sự tin tưởng nhất. Những người tham gia ở Trung Quốc và Việt Nam bày tỏ sự tin tưởng nhất vào các chương trình chứng nhận cấp chính phủ (50%), trong khi những người tham gia ở Nhật Bản lại ít tin tưởng nhất trong số này (26%).
Các phát hiện cho thấy rằng những thành tố không phát huy nhiều trong việc giảm thiểu tiêu thụ các protein ít bền vững như thịt bò và thịt lợn. Tuy nhiên, chúng cũng khơi gợi nhẹ nhàng mối quan tâm lên thịt gà và cá, cụ thể là phát thải khí nhà kính và những thông điệp liên quan đến sức khoẻ. Theo các nhà nghiên cứu, điều này có thể chỉ ra rằng việc thúc đẩy các lựa chọn tốt hơn sẽ dễ dàng hơn so với ngừng khuyến khích những thứ tồi tệ.
Điều này thì có ý nghĩa gì với những người ủng hộ? Mặc dù nhiều người tiêu dùng châu Á ngại ngần trong việc giảm thiểu nạp protein động vật, nhưng mối quan tâm đến môi trường ngày càng tăng. Việc quan tâm mạnh mẽ đến chứng nhận thực phẩm cho thấy con người đang cởi mở hơn với các lựa chọn mang tính bền vững, đặc biệt là khi họ thấy chúng đáng tin và chất lượng cao.
Cuối cùng, việc tạo ra thay đổi có ý nghĩa sẽ đòi hỏi nhiều hơn các chiến dịch về nhận thức hoặc các động lực thúc đẩy. Một cách tiếp cận toàn diện sẽ kết hợp các chiến lược văn hoá phù hợp, các chương trình chứng nhận đáng tin cậy, và cải thiện khả năng tiếp cận các lựa chọn bền vững với giá cả phải chăng. Cùng nhau, những nỗ lực này có thể giúp giảm thiểu dấu chân môi trường của chế độ ăn uống trong các thị trường đa dạng này.
https://doi.org/10.1016/j.crsus.2024.100020

